Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017



CHƯƠNG TRÌNH “GIAI ĐIỆU TRI ÂM”

CLB GIAI ĐIỆU PHƯƠNG NAM THĂM VÀ TẶNG QUÀ CHO NGHỆ SĨ Ở VIỆN DƯỠNG LÃO NGHỆ SĨ (QUẬN 8)


Ngày 18/2/2017, CLB Giai Điệu Phương Nam đã có buổi thăm và tặng quà cho các nghệ sĩ sống trong Viện Dưỡng lão Nghệ sĩ (Quận 8). Buổi thăm và tặng quà diễn ra trong không khí hết sức ấp cúng, và có sự tham gia của các thành viên CLB Giai Điệu Phương Nam, các tình nguyện viên, Ban quản lý Viện Dưỡng lão Nghệ sĩ, các nghệ sĩ và đại diện của Nhà Văn hóa Sinh viên.
Viện Dưỡng lão Nghệ sĩ hiện là mái nhà chung của 24 nghệ sĩ sinh sống, trong đó có nhiều nghệ sĩ nổi tiếng một thời trên các sân khấu cải lương, tuồng cổ như NSƯT Diệu Hiền, NSƯT Ngọc Hương, NS Thiên Kim, Mỵ Lan, Ngọc Đáng, Lệ Thẩm,… Có nhiều nghệ sĩ đã gắn bó với nơi này khá lâu như NS Thiên Kim (15 năm), NS Ngọc Đáng (10 năm).
Buổi thăm và tặng quà diễn ra với các hoạt động chủ yếu như dọn dẹp khuôn viên xung quanh viện dưỡng lão; dâng hương Tổ Nghiệp tại bàn thờ Tổ; trò chuyện, thăm hỏi sức khỏe, động viên các nghệ sĩ; giao lưu văn nghệ giữa các bạn thành viên CLB, tình nguyện viên và các nghệ sĩ; và trao các phần quà cho các nghệ sĩ.






Dọn dẹp khuôn viên Viện Dưỡng lão Nghệ sĩ. Ảnh: Hoàng Nguyên.





 Dâng hương Tổ Nghiệp tại bàn thờ Tổ. Ảnh: Hoàng Nguyên.





 Giao lưu văn nghệ giữa các bạn thành viên CLB, tình nguyện viên và các nghệ sĩ. Ảnh: Hoàng Nguyên.




 Trao quà cho các nghệ sĩ. Ảnh: Hoàng Nguyên.

                                     

Chụp hình lưu niệm giữa các thành viên, tình nguyện viên 
tham gia chương trình và các nghệ sĩ. Ảnh: Hoàng Nguyên.

Tâm sự với các bạn sinh viên, cô Diệu Hiền dặn dò: "Nếu tụi con yêu bộ môn này, hãy lấy nó làm nghề tay trái. Tụi con vẫn phải học thật tốt nghề của mình. Thời nay khác rồi, hồi đó mấy cô sống với nghề được, giờ tụi con khó lắm. Sân khấu còn mấy chỗ đâu. Yêu nó là mừng rồi". Đây vừa là lời tâm sự, vừa là lời dặn dò thế hệ tiếp nối luôn luôn giữ “lửa” cho bộ môn nghệ thuật truyền thống đặc trưng của dân tộc.

“Hôm nay khi đến đây được nghe các ông bà tâm sự về quãng đời làm nghệ thuật, chúng tôi mới hiểu rõ hơn về những giá trị tuyệt vời của đời người nghệ sĩ! Tất cả đã rưng rưng nước mắt khi nghe NSƯT Diệu Hiền giới thiệu về các ông bà và kể lại một thời vàng son. Không biết nói gì hơn! Chúng con xin âm thầm gửi đến các ông bà lời chúc sức khỏe và luôn vui vẻ hạnh phúc trong cuộc sống! Chúng con nguyện sẽ là những cánh chim mang nét đẹp của nền nghệ thuật sân khấu cải lương bay cao bay xa hơn, bảo tồn và phát huy bộ môn nghệ thuật dân tộc này để nó được trường tồn với thời gian!”_ Bạn Đặng Thành Nguyên, thành viên CLB chia sẽ.
Sau khi giao lưu văn nghệ, trò chuyện thăm hỏi các nghệ sĩ, các thành viên tiến hành tặng quà cho các nghệ sĩ bao gồm 24 phần quà và 10kg gạo. Phần quà này được trích từ nguồn quỹ CLB Giai Điệu Phương Nam và sự hỗ trợ từ Nhà Văn hóa Sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.
                                                                                      Quốc Toản



Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Cải lương Hồ Quảng

Cải lương là một lối hát tuồng cách tân, được phát triển vào đầu thế kỉ 20 tại miền Nam Việt Nam, kết hợp giữa đối thoại bằng giọng bình thường với những lời ca theo những điệu truyền thống miền Nam, trong đó chủ yếu là vọng cổ.
Cải lương Hồ Quảng, hiện nay, để kỵ húy thì gọi là cải lương tuồng cổ, cũng là cải lương, nhưng tuồng tích dựa vào những tuồng cổ, mà thường là tuồng cổ Trung Hoa.
Theo mình, gọi cải lương Hồ Quảng là cải lương tuồng cổ chỉ là 1 cách tránh né của các đoàn Hồ Quảng. Không phải tuồng cải lương ”cổ trang” nào cũng là cải lương Hồ Quảng. Những tuồng như Áo cưới trước cổng chùa, Mùa thu trên Bạch Mã Sơn… hay thậm chí là Tiếng trống Mê Linh, Thái hậu Dương Vân Nga đều không phải là cải lương Hồ Quảng. Cùng là Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, nhưng nếu xem tuồng của NS Minh Vương, Thanh Kim Huệ thì sẽ hoàn toàn khác với version Hồ Quảng của NS Vũ Linh, Tài Linh.
Vì thế, cải lương nên chia thành 3 nhánh, cải lương xã hội, cải lương tuồng cổ (giả sử) và cải lương Hồ Quảng


Quá trình hình thành của Cải lương Hồ Quảng

Cải lương Hồ Quảng là một loại hình nghệ thuật phối hợp giữa ba nghệ thuật: cải lương, tuồng kịch Bắc Kinh và tuồng kịch Quảng Ðông. Cuối thập niên 1940 sang đầu thập niên 1950, những nghệ sĩ như Phùng Há, Cao Long Ngà (bà ngoại của NS Phượng Mai), Năm Phỉ (chị NS Bảy Nam) có dịp sang Quảng Ðông học hỏi “vũ đạo” của các nghệ sĩ tuồng kịch truyền thống ở đây. Các nghệ sĩ này khi về nước, đem áp dụng “vũ đạo” này trên sân khấu, đạt được nhiều thành công.
Giữa thập niên 1950 sang đầu thập niên 1960, các nghệ sĩ Khánh Hồng, Bảy Huỳnh và Minh Tơ lần mò vào Chợ Lớn, tìm đến những gánh hát người Hoa, mua lại một số trang phục sân khấu của họ. Những trang phục này rất rực rỡ, mặc vào, lên sân khấu là đào, kép nổi bật, làm cho sân khấu cũng rực rỡ theo. Những nghệ sĩ này cũng học hỏi từ các gánh hát người Hoa nhịp điệu trống, bắt nguồn từ cách diễn tuồng của phái Bắc Kinh. Tiếng trống rộn rã giúp cho buổi trình diễn thêm tưng bừng náo nhiệt. Tiếng trống còn có tác dụng thay đổi tâm tình khách xem trình diễn, tùy theo nhịp điệu nhanh, chậm, cách ngắt quãng của nó. Các nghệ sĩ cũng học một số cách hát theo điệu Quảng Ðông.
Trở về sân khấu Việt Nam, các nghệ sĩ Khánh Hồng, Bảy Huỳnh, Minh Tơ pha điệu hát Hồ Quảng vào các tuồng cải lương. Về sau, khi khán giả có vẻ chấp nhận, cải lương Hồ Quảng trở thành một bộ môn riêng, với nhịp trống, điệu hát và y trang Bắc Kinh, Quảng Ðông, phối hợp với cách hát cải lương và ca vọng cổ.
Những năm 1961, 1962, 1963, phim Đài Loan tràn ngập thị trường phim Việt Nam, khởi đầu là phim Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, một truyện tình sử lấy nước mắt của không biết bao nhiêu là khán giả Việt Nam. Nhạc sĩ Đức Phú, em của nghệ sĩ Minh Tơ, đoàn hát Vĩnh Xuân Bầu Thắng lấy nhạc Đài Loan trong phim Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài, viết lời Việt, dùng trong tuồng Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài do anh sáng tác và thủ diễn vai chánh, hát với nữ nghệ sĩ Bo Bo Hoàng trong vai Chúc Anh Đài. Gánh hát Vĩnh Xuân Ban – Bầu Thắng hát tuồng Lương Sơn Bá có ca nhạc Đài Loan như trong phim nên thu hút khán giả với một con số kỷ lục.
Đoàn hát Thanh Bình – Kim Mai 1 (sau là đoàn Huỳnh Long) có hai nhạc sĩ Tàu là Há Thầu và chú Long cũng ghi âm nhạc Đài Loan dùng trong tuồng hát cho đoàn Huỳnh Long. Há Thầu đặt tên các bài nhạc đó là Hoàng Mai 5, Hoàng Mai 15, Ly Hận, Chiêu Quân Hội…
Các đoàn hát cải lương Hồ Quảng thu hút khán giả nghẹt rạp, các hãng dĩa cũng thu thanh và phát hành dĩa hát Hồ quảng, đài truyền hình Saigon cũng có những Ban hát Hồ Quảng như Ban Khánh Hồng, Ban Minh Tơ, Ban Huỳnh Long, Ban Vân Kiều, tất cả tạo thành một phong trào hát cải lương Hồ Quảng ngày một phát triển và được khán giả ưa thích.
Cải lương Hồ Quảng có nhiều ưu thế trên sân khấu. Về y trang rực rỡ và cách diễn bằng “biểu tượng” thì không thua gì hát bội, nhưng hát bội lại khó nghe, khó hiểu, trong khi đào kép trong cải lương Hồ Quảng thì nói ít, diễn nhiều, khi hát thì hát theo lối vọng cổ và một số làn điệu của cải lương rất dễ nghe, có hát theo điệu Quảng Ðông thì điệu ấy nghe cũng lọt tai. Ðặc biệt, cải lương Hồ Quảng lại có “vũ đạo,” tức là cách đưa tay, đá chân theo nhịp điệu như múa, mà là múa võ, nên gây hào hứng trên sân khấu.



Cải lương Hồ Quảng vẫn mang bản sắc Việt

Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đến văn hóa Việt Nam là điều không cần phải bàn cải. Tuy nhiên, cần phải ghi nhận rằng, là khi các truyện, tích của Trung Quốc được các văn sĩ, thi sĩ, nghệ sĩ Việt Nam thuật lại hay diễn lại, nó mang tính chất nghệ thuật rất độc đáo của Việt Nam, mà truyện, tích khi ấy chỉ là cái cơ hội để người nghệ sĩ Việt Nam diễn tả cái hay, cái đẹp, cái tuyệt diệu của ngôn ngữ, ý tưởng, tâm tình Việt Nam. Nguyễn Du kể chuyện đời một cô tên Vương Thúy Kiều ở Trung Quốc, mà người đọc luôn luôn có cảm giác cô là người Việt Nam. Những nhân vật phụ còn nổi tiếng hơn, Hoạn Thư, Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Bùi Kiệm… Chuyện này cũng xảy ra (tuy với mức độ thấp hơn) nơi các nghệ sĩ Việt Nam diễn tuồng cải lương Hồ Quảng.
Tóm lại, Cải lương Hồ Quảng là một bộ môn nghệ thuật sân khấu Việt Nam có một nguồn gốc khác phức tạp: cải lương, hát bội, sân khấu Bắc Kinh, sân khấu Quảng Ðông, nhạc Việt Nam truyền thống, nhạc Ðài Loan, võ thuật Bắc Phái… Tuy nhiên, qua cách trình diễn của các nghệ sĩ Việt Nam, tất cả các loại hình nghệ thuật này phối hợp nhuần nhuyễn với nhau, tạo thành một sắc thái riêng. Khán giả thưởng thức một vở tuồng diễn theo lối cải lương Hồ Quảng nhìn thấy ngay là nó rất Việt Nam, không lẫn với ca kịch Trung Hoa được. Ðó là cái tài của người nghệ sĩ, mà đó cũng là cái đặc thù của văn hóa Việt Nam, đón nhận cái của người, nhưng biến hóa nó, thăng tiến nó để nó hay hơn, đẹp hơn mà lại có tính chất Việt Nam.

Sưu tầm từ trang http://hoalongphongvan.wordpress.com



MỘT SỐ ĐIỆU HÒ QUẢNG NỔI TIẾNG

1.    Bạch Mai khúc
Chàng vui đời trai, thiếp tương lai lịm dần từ đây. Cầu mong người xưa như ánh dương quang tạo ngàn vầng hồng. Ngày tàn binh biến, nhạc hùng ca, rợp trời hoa, ngàn lời vui, chỉ riêng em lệ rơi.
Làm sao dâng em nỗi lòng, đừng phai tan má hồng. Hoàng huynh tâm ghi chữ đồng, Học Nhi dáng kiêu sa, mong trao em duyên thắm mà từ lâu, người thầm mơ, vẹn hồn thơ...lý đâu ta đành sao?
Gào vang trời cao thấu cho tôi muôn vạn dòng sầu, hồng nhan nghiệt oan vương kiếp đa mang vương lụy tình đầu. Trường sa gió lốc vùi đời trai không còn ngày mai gọi tình ai, tái lai xin đừng mong.
(trích Rượu tình)

2.    Trường khúc
Vì hiềm thù riêng, lòng người tà tâm, còn nhiều hờn căm, mới gây sai lầm. Đời con oan thác, ta thề không tha ác gian.
Quỳ giữa kim trào, van xin thánh minh hãy nên thương tình truy tìm kẻ gian.
Thương cho đời Dương lang, kiên tâm gìn trung can, nhưng nay lìa dương gian, thiên nhan ngài xót thương đem tà gian pháp trừ phân thây.
Thiên Ba lầu xưa nay, luôn luôn gìn tâm ngay, ai gây bày chua cay. Câu nhân tình đổi thay cho hùng anh vướng điều không may.
Cầu khẩn với thiên nhan nên xét cho tôi trung thần... ...Chồng thiếp đã hi sinh nơi đất Phiên cam chôn mình. Quá đớn đau xót dạ... ...Vì ai chia cách nhau... Hoàng gia là minh chúa, dùm truy ra kẻ gian.
Ngày trước đã lỡ duyên nên oán xưa luôn ghi lòng...gào thét với thiên nhan ban đức ân nơi cung rồng. Cho oán hờn tiêu tan...mới siêu hồn oan.
(trích Dương Gia Tướng)

3.    Tống liên chi
Đừng nên tranh hùng nữa... Quang Minh đỉnh vui giao tình... Gắng sức chung lòng, xua đuổi quân Nguyên tràn sang.
Người từ đâu đến... tài gì cản ngăn.
Cần lui giữ thân bình an.
Tăng Ngưu vốn tên tôi... Lòng muốn khuyên vài câu.
Đừng liều nguy vong... Làm sao thắng bao nhiêu hùng anh.
Dù tan thây nào tiếc... Yên tâm cháu thơ tranh tài... Hỡi các anh hùng, Minh Giáo chính ta chờ đây.
Tài vì khiêu khích, mị tà khoe khoang, chờ ta với mi tranh hùng nhau.
Xin Sư Thái quang lâm.. Nào dám so tài nhau.
Nhiều lời vô ích... Này xem Ỷ Thiên gươm dọc ngang...
(trích Đồ Long Ỷ Thiên Kiếm)

4.    Cánh nhạn minh tâm
Thầm trách sao khanh dối vua tà tâm, cung son đượm thảm, lỡ làng từ đây. Hết mong chi sum vầy, Liễu nương ơi sao đành. Lòng yêu khanh chẳng phai, đành gieo bao đắng cay. Chán chê dáng hoa, thướt tha thốt ra ước mơ cùng ta ngàn câu tha thiết, mà nay quên bỏ sao, đời vương gia xót đau. Ôi nuốt lệ nghẹn ngào, ân tình lìa xa.
Gào thét ơn trên chứng minh lòng son, phong ba trào dâng phủ vào đời con. Nỗi oan kêu thấu trời, nói… nói không nên lời.
Phiền Bao khanh hãy xem, hoàng cung nay tối đen. Liễu nương dã tâm, đổi thay trúc mai nỡ gieo đắng cay hoàng gia đau đớn. Nhờ Bao khanh xử phân, người quên đi nghĩa nhân.
Quân… hãy đưa Tứ Hùng đến liền cung son.
(trích Vụ án Hồng Phi)

5.    Liên hoàn kế/ trường khúc đuôi
Nguyện cầu…ngày vững an, lo ngai vàng âu ca chứa chang. Thôi hết rồi tơ loan trái ngang, tên Huyền Sương cách xa dương gian, ngàn thuở mang ân tình. Thương trẻ khờ côi cút tháng năm cung đình, lẻ loi một mình, mẹ hiền ở đâu.
Thương nàng… đành thảm tai, ai đổi dùm cho ta bửu ngai, xin cứu dùm nàng chiêu dương đắng cay. Sao trời cao chẳng thương uyên ương, đành rẽ duyên can thường. Ta kêu rào bi thiết gió giông ba đào, phủ giăng bao trùm, đôi mình có nhau.
Đừng đừng quân vương nên nén sầu bi thương, chớ xem thường ngôi báo cung đường, dằn lòng suy nghĩ tận tường, muôn nhà vui no ấm chỉ do hoàng vương.
Lệ thắm quân vương, ghi dấu đoạn tình trường, dương trần tan nát tình lứa đôi kiếp sau tương phùng.. ơ a ơ à.........à
(trích Hoàng hậu không đầu)

6.    Hoàng mai trả ngọc
ah... tui chẳng biết gì mà phải nói …rượu độc này nào phải của tui ..ah..thôi thôi thôi tui biết rồi mà ..bà..bà, (hát)…
Tâm ghen ghét cao dài hồng phước bang, sắc quý phi diễm kiều chẳng ai sánh bằng ..được nhà vua ái yêu chân thật chẳng hai lòng..nên bà ghen..muốn giết tui rồi bỏ thuốc trong tửu đào.
Tâm gian trá lọc lừa lời hiểm sâu, đổ oán ai gia ganh tỵ giết mi đoạt tình, khai nguồn cơ trắng đen mưu sâu độc kế thâm ai bài ...còn dối gian nát..hồn...tan..thây ..nàng..mau ..khai..hết ..đi…
Ngươi như sói như lang rừng sâu…tánh hung hăng toan chờ hại người...đừng hại ta nát cánh đào mai…quân vuông ơi..cứu thiếp thần..chung nương lòng ác..toan giết thần...bệ hạ ơi cứu thiếp thần..chung vô diệm muốn thuốc thần thiếp nè ...
Ác phụ đa ngôn ..khẩu xà hổ tánh ..hại nhân nhân hại ...ta sẽ cho mi nếm mùi độc tửu của mi ....
Bệ hạ ơi cứu thần thiếp ...ah....
Uống....
Ahhhhhh......chết tui rồi ....ụa....(hát) duyên kim cải hết rồi chờ kiếp sau, thiếp mới mong sum hiệp trúc mai hòa ...ôi quặng đau tứ chi gan ruột thắt như bào ....trời..như..chuyển xoay quay cuồng không gian ...nghẹn hơi ...máu tuôn ....ụa....b.ệ...h.ạ....thiếp x..a....thế gian ....ụa..
  (trích Chung VôDiệm)

7.    Hoàng mai long thanh
Chim rừng líu lo, cảnh thơ mộng quá, đôi lời thăm hỏi... đường... đi đến ngôi... trường. Mắt nhìn hai lối, khó mong thông đường, xin người chỉ giúp dùm cho.... xin chỉ dùm cho.
Đây miền nam, núi chập trùng, mà người đời đặt tên là Nam Sơn, nhiều lối đi lên, đến ngôi trường, ngôi trường gần đây cách hai đèo, trường ta là nơi hướng đi sơn đèo.
Đa tạ.... Vui thay, thích thay, tuổi xuân thì, nấu xử sôi kinh, chí ta chung cùng, xin cho biết tên, mình cùng quen nhau... buổi ban đầu, suối hát thông reo một lòng.. đều một lòng... rằng mong biết tên huynh đài.
Nhà có dư hàng trăm tên hầu, miền Triết Giang là quê, còn tuổi xuân là trăng tròn, tôi tánh danh là Chúc Anh Đài.
Cha tôi mất đi, tuổi còn ấu thơ, mẹ già dưỡng nuôi, ngày qua ngày qua hà ha ha hà. Tuổi mộng mơ vừa đúng trăng tròn trăng hà hà há ha hà. Chuyện tình quê nhà qua ngày đủ ăn. … Tôi tên Lương Sơn Bá.
(trích Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài)

8.    Xung trận
Quân ta hò reo chiến trường xa, lòng không quản ngại chi lửa binh, tai nghe tiếng kêu gọi hồn nước, thân trai bốn phương xin hiến đời cho núi sông.
Căm gan thù quân Tống tràn sang, lòng ta uất hờn sôi khí thiên, ta yêu nước non hơn cuộc sống, làm trai hiến dâng thân xác mình cho núi sông.
Thề nguyệnlòng chung sát vaichiến, xông pha ngàn lửa hồng.
Tim yêu nước ta, làm trai sao cho đáng trai.
Nước non hỡi, xin liều thân… (Trốc mã)…
Sử lưu truyền quân ta ngày xưa, thắng quân thù chiến công lừng danh. Chiến ta chiến Bạch Đằng Giang, kia xác quân thù ngàn thây phơi. Xin góp thân theo đường tiền nhân Ngô Quyền diệt trừ Hán ban, xin góp thân theo đường tiền nhân Ngô Quyền ..............................................DIỆT XÂM LĂNG.
(trích Câu thơ yên ngựa)

9.    Kê toa
Dân tôi sống chuyên nghề nông dân, đồng ruộng tốt tươi lúa đơm hoa, tựa hồ như á là cõi tiên, đêm về yên vui khắp buôn làng, không có trộm cướp côn đồ.
Vui chia sớt chung cùng một niềm vui, cùng chia sớt nhau những u buồn, vai cùng chen vai lo giữ gìn nước non, vợ chồng bên nhau đến trọn đời, khi thác nguyện xuống chung mồ.
Muôn lòng Triệu dân đồng thờ vua vẫn một lòng, sa trường liều thân chí kiêu hùng, trường sa thề tiến không lùi.
Quê tôi nắng đẹp lại mây xinh, ngày lại tháng qua gió mưa hòa, cây lành ngọt sai bốn mùa tốt tươi, ân trời Triệu bang có vua hiền, dân thích người mến muôn đời.
Vua Thành Than đã soi đường ta đi, đời sau gắng công quyết theo người, thiên hòa dân an mấy lời thánh nhân, để ngàn đời sau đến muôn đời phải nhớ và nhớ muôn đời.
Mong rằng nơi nơi người trị dân chớ quên lời, theo theo lời Thành Than chúng dân nhờ ân đức nhuần ca thái an muôn đời.
(trích Xa Phu Đi Xứ)

10.   Thúy Kiều – Từ Hải
(Bệ Hạ) Xin thánh quân theo thần dân dời gót. Long bào nên cởi rồi trao cho chàng. Tìm đường đào vong thoát nơi hang hùm, trở về triều ca Thánh Quân an toàn, đừng để lũ sói lang xúc phạm thân rồng. 
Ta chẳng lo bởi vì ta là Hạng Võ. Lũ giặc nghe tên là phải rụng rời. Ngàn đời Hạng Vương Sở bang oai hùng, lục thần gồm thâu tám trăm chư hầu, thì giặc cỏ kia đâu có ăn thua gì.
Vì ta để lụy phiền nên hai khanh vươn lấy tai nạn. Một mai ta thoát nguy, nơi vương triều ban tước công hầu. Bằng như thác chín sông, xin kiếp sau đền ơn....
(trích Tỉnh giấc liêu trai)


                                                                          NGUYÊN TÀI TỬ (sưu tầm và biên soạn)



Thứ Bảy, 17 tháng 12, 2016

ĐÀN NHỊ (ĐÀN CÒ)


Đàn Nhị/Cò là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là Đàn Nhị (). Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này như Tày, Nùng, Thái, Mường, Dao, Giáy, H’Mông v.v.
Theo tài liệu khảo cổ đã phát hiện ở chùa Vạn Phúc (Phật Tích – Thanh Sơn – Hà Bắc) có khắc chạm một dàn nhạc ở bệ đá kê chân cột chùa Phật Tích, với những nhạc cụ có xuất xứ từ ấn Độ và Trung Hoa. Dàn nhạc đó gồm 10 nhạc công ăn mặc giống như người Chăm và chơi các loại nhạc cụ trong đó có một nhạc cụ gần giống như Đàn Hồ 2 dây và là tiền thân của cây Đàn Nhị bây giờ.Căn cứ vào đó người ta đã ước đoán Đàn Nhị có thể du nhập vào Việt Nam theo con đường của người Chăm và cũng có thể du nhập theo con đường Trung Hoa tùy theo từng thời gian địa điểm khác nhau.” (Theo lịch sử âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê và Văn Thương).
Tuy phổ biến tên gọi “Đàn Nhị”, nhiều dân tộc tại Việt Nam còn gọi đàn bằng các tên khác nhau. Người Kinh gọi là “Líu” (hay “Nhị Líu” để phân biệt với “Nhị Chính”), người Mường gọi là “Cò Ke”, người miền Nam gọi là “Đờn Cò”. Hình dáng, kích cỡ và nguyên liệu làm Đàn Nhị cũng khác nhau đôi chút tùy theo tộc người sử dụng nó.Người dân Nam Bộ gọi là "Đàn Cò" vì hình dáng giống như con cò, trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò, cần đàn như cổ cò, thân đàn như con cò, tiếng đàn nghe lảnh lót như tiếng cò. Trong các dàn nhạc phường bát âm, ngũ âm, nhã nhạc, chầu văn, sắc bùa, nhặc tài tử, cải lương dàn nhạc dân tộc tổng hợp, dân ca... đều có Đàn Cò.
Loại Đàn Nhị thông dụng hiện nay có những bộ phận chính như sau:
1. Bát nhị (còn gọi là ống nhị): là bộ phận tăng âm (bầu vang) rỗng ruột, hình hoa muống, làm bằng gỗ cứng. Bát nhị có 2 đầu, đầu này bịt da rắn hay kỳ đà, còn đầu kia xòe ra không bịt gì cả. Ngựa đàn nằm ở khoảng giữa mặt da.
2. Dọc nhị (còn gọi là cần nhị, cán nhị): dáng thẳng đứng, đầu hơi ngả về phía sau, gốc cắm xuyên qua lưng bát nhị, gần phía mặt da.
3. Trục dây: trục trên và trục dưới đều gắn xuyên qua đầu dọc nhị nằm cùng hướng với bát nhị.
4. Dây nhị: Trước đây dây đàn được làm bằng sợi tơ se, ngày nay làm bằng nilon hoặc kim loại. Dây kim loại cho âm thanh chuẩn hơn nhưng không ngọt ngào bằng dây tơ hay dây nilon. Dây đàn chỉnh theo quãng 4 đúng, quãng 5 đúng, quãng 7 thứ… nhưng phổ biến nhất là quãng 5 đúng.
5. Cử nhị (hay Khuyết nhị): là một sợi dây tơ se neo 2 dây đàn vào gần sát dọc nhị, nơi dưới hai trục dây. Có khi cử nhị là một khung áo buộc gần sát dọc nhị, hai dây đàn xỏ qua hai lỗ khung này. Cử nhị là bộ phận để điều chỉnh cao độ âm thanh. Nếu kéo cử nhị xuống, 2 dây đàn sẽ ngắt quãng hơn, tạo ra âm thanh cao hơn. Nếu đẩy cử nhị lên khi đàn 2 dây sẽ phát ra âm thanh trầm hơn vì quãng dây dài hơn. Tuy nhiên để lên dây đàn các nghệ nhân còn vặn trục dây nữa.
6. Cung vĩ: làm bằng cành tre, cành lớp hay gỗ có mắc lông đuôi ngựa. Những lông đuôi ngựa nằm giữa hai dây đàn để kéo đẩy, cọ xát vào dây đàn tạo ra âm thanh. Do những lông đuôi ngựa kẹt hai dây đàn nên ta không thể tách rời cung vĩ khỏi thân đàn.
Đàn Nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao (giọng kim). Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang các nghệ nhân dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa xòe của bát nhị (khi ngồi trên ghế kéo đàn) hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị (khi ngồi trên phản kéo đàn, trên chiếu). Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền…



Đàn Nhị giữ vai trò chủ đạo trong Hát Xẩm, là thành viên trong nhạc phường bát âm, dàn nhã nhạc, ban nhạc chầu văn, tài tử và dàn nhạc tổng hợp. Ngày nay thỉnh thoảng nó xuất hiện cả trong dàn nhạc pop, rock hiện đại để tăng màu sắc trong cách phối âm.
Kỹ thuật đàn khá phong phú, bao gồm từ ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, ngón chuyền đến cung võ liền, cung vĩ ngắt, cung vĩ rời và cung vĩ rung, v.v.

                                                                                                      Hoàng Trần sưu tầm









TRÌNH DIỄN VĂN NGHỆ 
TRONG CHƯƠNG TRÌNH CHÀO MỪNG NGÀY NHÀ GIÁO VIỆT NAM 

Sáng 18/11, CLB Giai điệu phương Nam trực thuộc Nhà văn hóa Sinh viên TP.HCM đã góp đến những tiết mục văn nghệ chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 tại trường THCS Châu Văn Liêm. 



Bạn Hồng Thắm đang trình bày bài "Hát về cô giáo" gửi lời chúc tới quý thầy cô, là những người đưa đò thêm nhiều sức khỏe để tiếp túc con đường giáo dục các thế hệ trẻ chúng ta. 


Hiệu trưởng trường THCS Châu Văn Liêm tặng hoa cho bạn Hồng Thắm thay cho lời cảm ơn đến CLB Giai điệu phương nam.

Xem clip tại đây: https://www.youtube.com/watch?v=9dORUwNctK4

                                                                                  Tường Long

GIAO LƯU 
CÙNG CLB DÂN CA VÀ NHẠC CỔ TRUYỀN - ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM

Tối 19/11, tại Hội Quán Sinh Viên đã diễn ra buổi giao lưu Offline lần 3 của CLB Dân ca & Nhạc cổ truyền (Đại học Ngân hàng) với chủ đề "Đêm Tri ân". Cùng đắm chìm trong không gian sâu lắng và da diết của buổi offline, CLB Giai Điệu Phương Nam đã đem đến giao lưu ba tiết mục văn nghệ vô cùng đặc sắc.

Xem tiết mục giao lưu tại đây: https://www.youtube.com/watch?v=KX5etAUA968&t=58s


Thứ Hai, 14 tháng 11, 2016

ĐÀN TRANH




Đàn tranh, cũng được gọi là đàn thập lục, là nhạc cụ của người Việt (Kinh). Đàn thuộc họ dây chi gảy. Vì có 16 dây nên đàn còn có tên chữ là Thập lục.Âm sắc Đàn Tranh trong trẻo, sáng sủa thể hiện tốt các điệu nhạc vui tươi, trong sáng. Đàn Tranh ít thích hợp với những tính cách trầm hùng, khoẻ mạnh. Tầm âm Đàn Tranh rộng 3 quãng 8, từ Dô lên Dô3.Đàn Tranh thường được sử dụng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho ngâm thơ, hát, tham gia trong các dàn nhạc Tài Tử, phường Bát Âm, dàn Nhã Nhạc và các dàn nhạc dân tộc tổng hợp.
Theo giáo sư tiến sĩ Trần Văn Khê: Nguồn gốc Đàn Tranh Việt Nam là đàn "Tranh" giống như đàn "Sắt" từ Trung Quốc truyền sang nước Việt có thể từ đời Trần hay trước nữa, dùng trong dân dã dưới dạng 9 dây, 15 dây, 16 dây và từ xưa đến giờ thay đổi số dây từ dây tơ sang dây cước (dây đồng) đến dây thép. Nhưng qua 7, 8 thế kỷ, người nước Việt dùng nó, tạo cho nó một phong cách đặc thù trong thủ pháp, ngón đàn, tay nhấn nhá, trong thang âm điệu thức. Đàn tranh đã thành nhạc cụ hoàn toàn mang tính dân tộc Việt Nam vì đã được người Việt ưa dùng, truyền từ đời này đến đời kia hằng 7-8 trǎm nǎm, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt, và nói rõ ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam.
Cẩm sắt là mỹ danh của cây đàn Sắt. Sắt là đàn làm bằng gỗ ngô đồng, song tấu với đàn Cầm. "Duyên cầm sắt", "sắt cầm hảo hợp" là từ đây mà ra.Theo truyền thuyết, theo lệnh vua Phục Hy, Tố Nữ gẩy đàn Sắt (gồm 50 dây) tế trời . Nhưng Phục Hy không bằng lòng và ngăn cấm sử dụng vì nghe tiếng đàn quá tê tái , não nuột bi ai thảm thiết. Nhưng thấy dân chúng vẫn lén lút xử dụng nên Phục Hy đành phải ra lệnh sửa đổi đàn Sắt chỉ còn lại 25 dây. Nghe đồn đàn Sắt là tổ tiên của đàn Tranh. Cái tên "Tranh" tức là "tranh giành", theo như một truyền thuyết nói rằng: Ngày xưa có hai người tranh nhau một cây đàn Sắt có 25 dây. Mông Điềm, một vị quan thời nhà Tần, mới chặt cây đàn sắc ra làm hai, một cây đàn 12 dây và một cây đàn 13 dâỵ Một thuyết khác nói rằng dưới thời nhà Tần có hai chị em nhà kia tranh nhau một cây đàn sắc có 25 dây. Dành qua dành lại, cây đàn rớt xuống bể làm hai. Người chị lấy cây đàn có 13 dây, còn người em lấy cây đàn 12 dây.


Về cấu trúc, Đàn tranh bao gồm những bộ phận sau:
Hộp đàn: Hình hộp dài, chiều dài khoảng 110cm, đầu đàn hẹp khoảng 13cm, cuối đàn rộng khoảng 20cm.
Mặt đàn: Mặt đàn Tranh vồng lên tượng trưng cho vòm trời làm bằng gỗ xốp, nhẹ . Loại gỗ thường làm mặt Đàn Tranh là gỗ Ngô Đồng.
Thành đàn: Làm bằng gỗ trắc, mun hoặc cẩm lai hoặc gỗ gụ
Ðáy đàn: Dưới đáy đàn ở đầu rộng, phía tay phải người đánh đàn có một lỗ thoát âm hình bán nguyệt để lắp dây, ở giữa đàn có 1 lỗ hình chữ nhật để cầm đàn khi di chuyển và ở đầu hẹp có một lỗ tròn nhỏ để treo đàn.
Cầu đàn: Ở đầu rộng, một cầu đàn bằng gỗ, hơi nhô lên và uốn cong theo mặt đàn có các lỗ nhỏ xếp hàng ngang có nạm hoặc cẩn kim loại để xỏ dây.
Ngựa đàn: Trên mặt đàn có nhạn (ngựa đàn) tương ứng với số dây, các con nhạn để đỡ dây đàn và có thể di chuyển được để điều chỉnh độ cao thấp của dây. Để có độ bền và âm thanh tốt, các con nhạn  thường làm bằng gỗ trắc hoặc cẩm lai. Đầu các con nhạn ở vị trí đỡ các dây đàn thường được gắn thêm xương hoặc đồng.
Trục đàn: Ở đầu hẹp đàn Tranh có các trục đàn để lên dây, trục đàn đặt trên mặt đàn còn để giữ một đầu dây xếp hàng chéo do độ ngắn dài của dây, tạo âm thanh cao thấp, trục đàn tốt thường được làm bằng gỗ Trắc, gôc Cẩm Lai hoặc gỗ gụ.
Dây đàn: Dây đàn bằng thép hoặc inox với các cỡ dây khác nhau để phù hợp với tầm âm của cây đàn.


Móng gảy: Ðàn Tranh đàn bằng móng gảy thường được làm bằng đồi mồi, Inox.

                                         Trần Hoàng Sưu tầm